Nghị quyết 10-NQ/TW: Kết nối FDI với doanh nghiệp Việt

Nghe bài đọc
00:00 / --:--

Nghị quyết số 10-NQ/TW được kỳ vọng mở rộng cơ hội hợp tác giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp Việt Nam, nhất là trong công nghiệp hỗ trợ. Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, để trở thành nhà cung ứng lâu dài, doanh nghiệp trong nước cần chủ động đầu tư vào công nghệ, nhân lực, quản trị và chất lượng sản phẩm.

Công nghiệp hỗ trợ cần nâng năng lực tự chủ

Trao đổi với Báo Công Thương, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp tại Đại học Kinh tế Quốc dân, nhận định việc doanh nghiệp Việt đầu tư nhà máy công nghiệp hỗ trợ quy mô lớn cho thấy năng lực sản xuất trong nước đang cải thiện.

Theo ông, Việt Nam đã đặt vấn đề nâng tỷ lệ nội địa hóa từ những năm 1992–1993, khi dòng vốn nước ngoài bắt đầu tăng nhanh. Tuy nhiên, công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa tương xứng với nhu cầu trong một thời gian dài. Nhiều nhà máy cơ khí, chế tạo sử dụng công nghệ cũ, khó đáp ứng các yêu cầu sản xuất mới.

Việc một số doanh nghiệp trong nước có thể đầu tư nhà máy và sản xuất theo yêu cầu của đối tác là tín hiệu tích cực. Giá trị của khoản đầu tư thể hiện ở khả năng làm chủ công nghệ, tổ chức sản xuất và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao của khách hàng. Đây là những năng lực giúp doanh nghiệp tự phát triển sản phẩm và đảm nhận thêm công đoạn trong chuỗi cung ứng.

Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, các chương trình đào tạo nhà cung ứng của những tập đoàn như Samsung là một cách để tiếp cận yêu cầu sản xuất linh kiện, thiết bị và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Theo ông Lạng, những trường hợp thành công hiện vẫn chưa nhiều, nhưng có thể tạo nền tảng để mở rộng mạng lưới cung ứng trong nước.

Liên kết FDI có thể mang lại lợi ích cho cả hai bên

Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chính sách hỗ trợ sẽ phát huy tác dụng khi giúp doanh nghiệp giải quyết những điểm yếu cụ thể, từ vốn, công nghệ và nhân lực đến quản trị và khả năng tiếp cận thị trường. Khi các biện pháp hỗ trợ bám sát nhu cầu sản xuất, doanh nghiệp có thêm điều kiện đầu tư nhà máy, đổi mới công nghệ và xây dựng quan hệ với các đối tác FDI.

Doanh nghiệp FDI cũng có lý do để phát triển nhà cung ứng Việt Nam. Nguồn cung tại chỗ có thể giúp họ giảm chi phí và linh hoạt hơn khi điều chỉnh kế hoạch sản xuất. Với doanh nghiệp trong nước, quá trình hợp tác tạo cơ hội học hỏi kỹ thuật, cải thiện quy trình và đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn quốc tế.

Ở góc độ chính sách, ông Lạng đề xuất xem xét hiệu quả thu hút FDI qua cả mức độ liên kết với doanh nghiệp nội địa, bên cạnh vốn đăng ký và quy mô dự án. Cơ chế hỗ trợ cần được triển khai nhất quán để doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Khả năng biến cơ hội đó thành đơn hàng vẫn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm và năng lực tổ chức sản xuất của từng nhà cung ứng.

Doanh nghiệp Việt cần làm gì để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng?

Đầu tư vào công nghệ, nhân lực và quản trị

Theo ông Lạng, doanh nghiệp cần chủ động nâng năng lực sản xuất, từ đầu tư công nghệ và đào tạo nhân lực đến hoàn thiện quản trị, kiểm soát chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn của đối tác. Chuyển giao công nghệ có thể hỗ trợ quá trình này, còn khả năng tiếp nhận và vận hành công nghệ cần được xây dựng ngay tại doanh nghiệp.

Khi đã cung ứng cho một tập đoàn, doanh nghiệp có thể dùng kinh nghiệm tích lũy để kết nối với các nhà cung ứng khác, tìm khách hàng mới và từng bước tham gia mạng lưới sản xuất khu vực. Mở rộng quan hệ theo hướng này giúp giảm phụ thuộc vào một khách hàng hoặc một thị trường, đồng thời tạo cơ hội đảm nhận thêm sản phẩm và công đoạn.

Tính đến tiêu chuẩn xanh ngay từ khi đầu tư

Các yêu cầu về môi trường, sử dụng năng lượng, nước và quản trị bền vững ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất và thương mại. Theo ông Lạng, nếu tính đến các tiêu chuẩn này từ khâu thiết kế nhà máy và quy trình sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn và giảm chi phí điều chỉnh về sau.

Đáp ứng đồng thời yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng và môi trường cũng có thể giúp doanh nghiệp duy trì quan hệ với đối tác và tiếp cận khách hàng mới. Hiệu quả phụ thuộc vào mức độ phù hợp của khoản đầu tư với quy trình sản xuất và tiêu chuẩn của thị trường mục tiêu.

Từ mô hình riêng lẻ đến mạng lưới nhà cung ứng trong nước

Những doanh nghiệp đã làm chủ được một số công nghệ, sản phẩm hoặc quy trình có thể trở thành hạt nhân để phát triển các mô hình liên kết lớn hơn. Theo PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, bước tiếp theo là xây dựng mạng lưới doanh nghiệp có khả năng cung ứng ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và làm việc với nhiều đối tác.

Nếu doanh nghiệp trong nước đảm nhận thêm công đoạn và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất, phần giá trị tạo ra tại Việt Nam có thể tăng lên. Cơ hội từ Nghị quyết số 10-NQ/TW vì vậy phụ thuộc vào cách chính sách được triển khai, mức độ hợp tác của doanh nghiệp FDI và khả năng nâng chuẩn sản xuất của các nhà cung ứng Việt Nam.

Share your love
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Oldest
Newest Most Voted

Sign up for the newsletter

Sign up for the newsletter
Book Đặt lịch Telegram Telegram Messenger Messenger Hotline Hotline