
Giá cao su mở cửa phiên 12/10 tăng tại Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc, trong khi giá thu mua tại các doanh nghiệp trong nước được nêu trong bài giữ ổn định. Tại Trung Quốc, hơn 60 nhà sản xuất lốp đã thông báo tăng giá từ tháng 9 khi chi phí cao su và các nguyên liệu khác đi lên.
Giá cao su thế giới ngày 12/10
Ba mức giá được bài gốc cập nhật khi mở cửa phiên đều tăng. Diễn biến tại từng thị trường như sau:
Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc cùng tăng
| Thị trường và loại giá | Mức giá | Thay đổi |
|---|---|---|
| Nhật Bản: cao su kỳ hạn tháng 11 trên sàn Osaka (OSE) | 448,7 yên/kg | Tăng 2,2 yên, tương đương 0,49% |
| Thái Lan: cao su RSS3 xuất khẩu, FOB Laem Chabang | 97,89 baht/kg | Tăng 0,3 baht, tương đương 0,31% |
| Trung Quốc: cao su kỳ hạn tháng 11 trên sàn Thượng Hải (SHFE) | 19.555 nhân dân tệ/tấn | Tăng 115 nhân dân tệ, tương đương 0,59% |
Trước đó, vào phiên đóng cửa ngày 9/10, hợp đồng cao su tham chiếu trên sàn SHFE đạt 20.645 nhân dân tệ/tấn, tăng hơn 30% từ đầu năm và lên mức cao nhất trong 9 năm, theo SunSirs. Đây là số liệu của phiên 9/10, khác với giá hợp đồng kỳ hạn tháng 11 khi mở cửa ngày 12/10 ở bảng trên.
Hơn 60 hãng lốp Trung Quốc thông báo tăng giá
Giá nguyên liệu tăng đang tác động đến chi phí sản xuất lốp. Quy mô các đợt điều chỉnh và những yếu tố liên quan được ghi nhận như sau.

Chi phí đầu vào thúc đẩy điều chỉnh giá bán
Kể từ tháng 9, hơn 60 nhà sản xuất lốp tại Trung Quốc phát đi hơn 70 thông báo tăng giá đối với lốp toàn thép, lốp bán thép và lốp xe công trình (OTR). Riêng kỳ nghỉ lễ Quốc khánh có thêm hơn 20 doanh nghiệp công bố tăng giá; 9 doanh nghiệp trong số đó điều chỉnh lần thứ hai trong thời gian ngắn.
Theo các nhà quan sát được bài gốc dẫn lại, đợt tăng giá lốp chủ yếu đến từ chi phí cao su thiên nhiên, cao su tổng hợp và muội than tăng, làm thu hẹp biên lợi nhuận. Thị trường ô tô vẫn cạnh tranh về giá; một số hãng xe nâng yêu cầu giảm chi phí hằng năm đối với nhà cung cấp từ 3 – 5% lên hơn 10%.
Nguồn cung cao su thiên nhiên chịu nhiều sức ép
Cây cao su cần 6 – 8 năm từ khi trồng đến lúc cho mủ. Theo bài gốc, giai đoạn giá thấp trước đây đã hạn chế tái canh, trong khi tỷ lệ cây già tại các vùng sản xuất chính tăng lên. Tại Indonesia, sản lượng được dự kiến giảm từ 3,19 triệu tấn năm 2023 xuống 2,04 triệu tấn năm 2025 khi nhiều nông hộ chuyển sang trồng cọ dầu.
Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) dự báo sản lượng toàn cầu năm 2026 khoảng 15,32 triệu tấn, thấp hơn mức tiêu thụ 15,6 triệu tấn. Mưa lớn tại các vùng sản xuất Đông Nam Á làm giảm số ngày cạo mủ; cuối tháng 9, khoảng 23.000 ha cao su tại 4 tỉnh miền đông Thái Lan bị thiệt hại do thời tiết.
Bài gốc cũng dẫn dự báo của Trung tâm Khí hậu Quốc gia Trung Quốc rằng đợt El Niño hiện tại có thể đạt đỉnh vào khoảng tháng 11. Công ty Chứng khoán Guosheng thống kê 9 đợt El Niño mạnh trong lịch sử, trong đó 7 đợt đi kèm sự sụt giảm sản lượng cao su thiên nhiên.
Cao su tổng hợp và muội than cũng tăng giá
Giá butadiene, nguyên liệu chính để sản xuất cao su tổng hợp, tăng từ 10.100 nhân dân tệ/tấn đầu tháng 3 lên gần 18.500 nhân dân tệ/tấn, tương đương mức tăng hơn 80%. Trong giai đoạn này, giá dầu Brent có thời điểm vượt 100 USD/thùng.
Ngày 9/10, giá muội than ở mức 11.692,86 nhân dân tệ/tấn, tăng khoảng 59,74% so với cùng kỳ năm trước và lên mức cao nhất trong 6 năm.
Giá chào cao su giao ngay tại Thanh Đảo tăng
Cùng với thị trường kỳ hạn, giá chào hàng giao ngay tại Thanh Đảo cũng được điều chỉnh. Các mức giá theo năm sản xuất và chủng loại như sau.

Cao su 3L Việt Nam được chào 20.400 – 20.600 nhân dân tệ/tấn
Theo SunSirs, ngày 9/10, thương nhân tại Thanh Đảo tăng giá chào thêm 300 – 400 nhân dân tệ/tấn. Cao su Yunbao, Guangken và Haibao sản xuất năm 2024 được chào 19.600 – 19.900 nhân dân tệ/tấn; hàng cùng thương hiệu sản xuất năm 2025 ở mức 19.700 – 20.000 nhân dân tệ/tấn. Cao su 3L Việt Nam chủ yếu được chào 20.400 – 20.600 nhân dân tệ/tấn.
Natural Rubber Network nhận định nguồn cung giảm theo mùa, thời tiết bất lợi và lượng chứng từ lưu kho trên sàn ở mức thấp đang hỗ trợ giá trong ngắn hạn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp sử dụng cao su chủ yếu mua theo nhu cầu và ít tích trữ quy mô lớn, trong khi nhu cầu cuối cùng phục hồi chậm.
Tại Tây Song Bản Nạp, tỉnh Vân Nam, nông dân cho biết cạo 600 cây/ngày thu khoảng 35 kg mủ khô. Thu nhập hằng ngày từ hơn 300 nhân dân tệ vài năm trước tăng lên hơn 500 nhân dân tệ hiện nay, khiến một số người từng đi làm xa quay lại cạo mủ.
Giá thu mua cao su trong nước ổn định
Các mức thu mua tại Bình Long và MangYang trong bài gốc không ghi nhận thay đổi. Chi tiết theo từng doanh nghiệp như sau:
Giá tại Bình Long và MangYang
| Doanh nghiệp, loại mủ | Giá thu mua |
|---|---|
| Bình Long: mủ nước tại nhà máy | 540 đồng/độ TSC/kg |
| Bình Long: mủ nước tại đội sản xuất | 530 đồng/TSC/kg |
| Bình Long: mủ tạp DRC 60% | 18.000 đồng/kg |
| MangYang: mủ nước loại 2 đến loại 1 | 458 – 463 đồng/TSC |
| MangYang: mủ đông tạp loại 2 đến loại 1 | 404 – 459 đồng/DRC |