
Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoàn thiện bộ ba định hướng dành cho kinh tế nhà nước, tư nhân và FDI. Trọng tâm là kết nối nguồn lực, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng khả năng tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp Việt Nam.
Nghị quyết 10-NQ/TW hoàn thiện định hướng cho ba khu vực kinh tế
Theo Báo Công Thương, dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục gia tăng trong bối cảnh Việt Nam hình thành hệ thống định hướng phát triển đồng bộ cho ba khu vực kinh tế.
Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 50,36 tỷ USD
Trong chín tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, cao hơn các kỳ tương ứng trong năm năm qua.
TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), cho biết sau gần 40 năm, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được ban hành vào tháng 12/1987, tổng vốn FDI thu hút vào Việt Nam đã vượt 570 tỷ USD.
Ba nghị quyết xác định vai trò bổ trợ giữa các khu vực
Bộ ba nghị quyết được ban hành theo các mốc:
| Nghị quyết | Ngày ban hành | Định hướng trọng tâm |
|---|---|---|
| 68-NQ/TW | 4/5/2025 | Phát triển kinh tế tư nhân |
| 79-NQ/TW | 6/1/2026 | Phát triển kinh tế nhà nước |
| 10-NQ/TW | 8/6/2026 | Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài |
Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, Nghị quyết 10 hoàn thiện thế kiềng ba chân trong định hướng phát triển kinh tế.
Trong đó, Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết 79 khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong định hướng, dẫn dắt và điều tiết. Nghị quyết 10 xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng, tập trung vào chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp nội địa.
Ông Tuấn nhấn mạnh yêu cầu kết nối thế mạnh của từng khu vực để nâng năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của nền kinh tế.
Thu hút FDI chuyển trọng tâm sang công nghệ và chất lượng tăng trưởng
Bên cạnh quy mô vốn, đóng góp của FDI cần được đánh giá qua khả năng lan tỏa công nghệ và nâng cấp chuỗi giá trị. Đây là yêu cầu khi Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng.
Khắc phục hạn chế về liên kết và lan tỏa công nghệ
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Toàn, Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhận định trong nhiều thập kỷ, FDI chủ yếu đóng góp thông qua tăng vốn đầu tư và lao động.
Trong khi đó, mức độ lan tỏa công nghệ và tác động nâng cấp chuỗi giá trị còn hạn chế. Thu hút đầu tư chưa gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia, hình thành cụm ngành, hệ sinh thái công nghiệp và mục tiêu làm chủ công nghệ lõi.
Khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng chính, khu vực FDI cần có phương thức đóng góp phù hợp. Theo ông Toàn, Nghị quyết 10 đáp ứng yêu cầu này, đồng thời hỗ trợ huy động nguồn lực cho tăng trưởng nhanh, bền vững.
Xây dựng nền tảng thể chế đồng bộ
TS. Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế, đánh giá ba nghị quyết tạo nền tảng định hướng toàn diện cho doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và FDI.
Sự đồng bộ này có thể góp phần cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy liên kết và lan tỏa lợi ích giữa các khu vực.
Nghị quyết 10 xác định khu vực FDI được khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực khác theo pháp luật. Định hướng phát triển vì vậy vượt ra ngoài mục tiêu tăng vốn, hướng tới nâng chất lượng tăng trưởng và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam.
Mục tiêu tăng liên kết doanh nghiệp và tỷ lệ nội địa hóa
Vai trò của FDI trong xuất khẩu và tạo giá trị cho thấy tầm quan trọng của khu vực này. Tuy nhiên, hiệu quả liên kết cần được thể hiện rõ hơn qua mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước.
FDI chiếm 80,7% kim ngạch xuất khẩu chín tháng
Theo thông tin được dẫn trong bài, doanh nghiệp FDI chiếm chưa tới 3% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, nhưng tạo ra hơn một phần tư việc làm và gần một phần ba giá trị gia tăng.
Số liệu Cục Thống kê cho thấy trong chín tháng năm 2026, khu vực FDI chiếm 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa.
GS.TSKH. Nguyễn Mại, Chủ tịch danh dự VAFIE, cho biết Việt Nam hiện có gần một triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Nhiều tập đoàn tư nhân đã đủ khả năng thực hiện dự án lớn, ứng dụng công nghệ cao và phát triển hạ tầng hiện đại, từng bước tham gia các lĩnh vực trước đây chủ yếu do nhà đầu tư nước ngoài đảm nhận.
Dù vậy, sức mạnh của từng khu vực chưa được kết nối tương xứng. Khi FDI chiếm hơn 80% xuất khẩu, vấn đề cần xem xét là doanh nghiệp Việt tham gia đến đâu, tiếp nhận công nghệ gì và tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng.
Khoảng 10.000 doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi FDI vào năm 2030
Nghị quyết 10 đặt mục tiêu đến năm 2030:
- Khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI.
- Hình thành khoảng 500–1.000 nhà cung ứng cấp I.
- Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45–50%.
Để hỗ trợ các mục tiêu này, Nghị quyết 68 thúc đẩy nâng năng lực quản trị, công nghệ và tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp tư nhân. Nghị quyết 79 phát huy vai trò kinh tế nhà nước trong hạ tầng chiến lược và những lĩnh vực then chốt.
Nghị quyết 10 kết nối nhà đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nội địa, tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ, nâng tiêu chuẩn sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Hướng tới đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2045
Đến năm 2045, Nghị quyết đặt mục tiêu khu vực FDI phát triển hiệu quả, bền vững và gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, tư nhân.
Khu vực này phấn đấu chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.
Theo TS. Nguyễn Minh Phong, sự cộng hưởng giữa ba khu vực là nền tảng để thúc đẩy tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hướng tới tăng trưởng hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Kết nối nhà cung ứng cần đi cùng nâng chất lượng thực thi
Kế hoạch mở rộng của nhà đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, cơ hội cần được hỗ trợ bằng kết nối cụ thể và môi trường thực thi chính sách thuận lợi.
56,9% doanh nghiệp Nhật Bản có kế hoạch mở rộng tại Việt Nam
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 10 ngày 30/6/2026, ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Mitsubishi Corporation tại Việt Nam, ví Nghị quyết 10 và Nghị quyết 68 như hai bánh xe của tăng trưởng.
Ông dẫn khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho thấy 56,9% doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng kinh doanh, đứng đầu ASEAN.
Từ đó, ông đề xuất tăng kết nối doanh nghiệp, xây dựng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Trách nhiệm thực thi quyết định hiệu quả chính sách
GS.TSKH. Nguyễn Mại cho rằng dù việc hoàn thiện thể chế và chuyển hóa nghị quyết thành pháp luật được đẩy nhanh, nhiều thủ tục hành chính vẫn phức tạp, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian thực hiện.
Hiệu quả phụ thuộc trực tiếp vào năng lực, trách nhiệm của cán bộ, công chức và chất lượng vận hành bộ máy. Vì vậy, cần nâng trách nhiệm người đứng đầu, tăng giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình.
Kết quả của ba nghị quyết cần được kiểm chứng bằng năng lực doanh nghiệp Việt, mức độ chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và vị thế trong chuỗi cung ứng quốc tế, hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.