
Giá tiêu sáng 29/9 không đổi tại các vùng trồng được khảo sát, dao động từ 136.000 đến 140.000 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, các mức giá tiêu đen và tiêu trắng do Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) công bố cũng giữ nguyên so với ngày trước. IPC cho biết nguồn cung ngắn hạn và nhu cầu đang cân bằng, trong khi chi phí logistics còn cao.
Giá tiêu trong nước ngày 29/9
Giá thu mua tại các khu vực khảo sát tiếp tục đi ngang. Bảng dưới đây giữ tên khu vực và mức giá theo bài gốc để tiện đối chiếu.
Giá thu mua tại từng khu vực
| Khu vực khảo sát | Giá thu mua (đồng/kg) | So với ngày trước |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 138.000 | Không đổi |
| Gia Lai | 136.000 | Không đổi |
| Đắk Nông | 140.000 | Không đổi |
| Bà Rịa – Vũng Tàu | 136.500 | Không đổi |
| Bình Phước | 136.000 | Không đổi |
| Đồng Nai | 136.000 | Không đổi |
Đắk Nông, được bài gốc ghi kèm địa danh Lâm Đồng, có giá 140.000 đồng/kg. Tiếp theo là Đắk Lắk ở mức 138.000 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu, được ghi kèm TP Hồ Chí Minh, ở mức 136.500 đồng/kg; Gia Lai và Đồng Nai cùng ở mức 136.000 đồng/kg. Bảng giá của bài gốc cũng ghi Bình Phước ở mức 136.000 đồng/kg.
Giá tiêu thế giới ngày 29/9
Các mức giá IPC được bài gốc dẫn cho thấy tiêu đen và tiêu trắng tại những thị trường được khảo sát đều đi ngang. Giá được niêm yết bằng USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu
| Chủng loại, thị trường | Giá (USD/tấn) | So với ngày trước |
|---|---|---|
| Lampung, Indonesia | 6.828 | Không đổi |
| ASTA 570, Brazil | 5.850 | Không đổi |
| Kuching ASTA, Malaysia | 9.250 | Không đổi |
| Việt Nam, loại 500 g/l | 5.970 | Không đổi |
| Việt Nam, loại 550 g/l | 6.075 | Không đổi |
Lưu ý: Bảng trong bài gốc ghi nhãn 500 g/l cho cả hai dòng giá của Việt Nam, nhưng phần nội dung xác định mức 6.075 USD/tấn là loại 550 g/l. Bảng trên dùng thông tin từ phần nội dung để phân biệt hai loại.
Giá tiêu trắng xuất khẩu
| Chủng loại, thị trường | Giá (USD/tấn) | So với ngày trước |
|---|---|---|
| Muntok, Indonesia | 9.348 | Không đổi |
| Malaysia ASTA | 12.150 | Không đổi |
| Việt Nam | 8.450 | Không đổi |
Diễn biến thị trường hồ tiêu theo IPC
Bên cạnh bảng giá ngày 29/9, IPC cập nhật tình hình giao dịch, thu hoạch và nguồn cung tại các nước sản xuất. Các diễn biến có khác biệt giữa từng thị trường.

Nhu cầu ổn định, cước vận tải còn biến động
IPC nhận định thị trường hồ tiêu toàn cầu duy trì ổn định nhờ nguồn cung cân bằng trong ngắn hạn và nhu cầu đều đặn, dù chi phí logistics tăng cao. Cước vận tải dự kiến tiếp tục biến động trong tháng 10; với các đơn hàng cần giao nhanh, việc lên kế hoạch sớm có thể giúp doanh nghiệp tổ chức vận chuyển hiệu quả hơn.
Tại Ấn Độ, giao dịch hồ tiêu nhìn chung ổn định trong tuần trước. Nhu cầu nội địa cân bằng giúp hạn chế biến động giá, trong khi doanh nghiệp tiếp tục theo dõi nguồn cung trong nước và thị trường thế giới.
Indonesia ghi nhận giá giảm nhẹ trong tuần qua, cùng thời điểm đồng rupiah mất giá khoảng 1% so với USD. Hoạt động thu hoạch vẫn tiếp diễn, còn dự báo sản lượng năm nay không cao hơn năm trước.
Ngược lại, giá hồ tiêu nội địa Sri Lanka tăng và giao dịch ổn định. Tại Malaysia, giá trong nước và giá xuất khẩu ít biến động. Campuchia và Trung Quốc cũng ghi nhận ít thay đổi trong kỳ báo cáo.
Thu hoạch tại Brazil và tình hình Việt Nam
Tại Brazil, hoạt động thu hoạch tăng; hồ tiêu mới từ bang Pará dần được đưa vào các kênh thương mại và sản lượng cả năm được dự báo tăng. Tuy vậy, lượng hàng chào bán trong ngắn hạn vẫn hạn chế.

Ở Việt Nam, giao dịch nội địa ổn định, còn giá xuất khẩu giảm ở mức vừa phải theo cập nhật của IPC. Mưa lớn và ngập lụt ảnh hưởng một số khu vực, nhưng vườn tiêu tại các vùng sản xuất chính nhìn chung không bị tác động đáng kể. Tại một số nơi có lượng mưa ít hơn, hiện tượng rụng gié và tỷ lệ phát sinh bệnh cũng giảm.
Việt Nam chiếm khoảng 87% hồ tiêu Thái Lan nhập khẩu
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Thái Lan nhập khẩu 7.923 tấn hồ tiêu. Việt Nam cung cấp 6.922 tấn, chiếm khoảng 87% tổng lượng nhập khẩu. Indonesia, Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ cũng cung ứng hồ tiêu cho Thái Lan trong giai đoạn này.