
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt khoảng 1,9 triệu tấn, trị giá 9,1 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026. Kim ngạch tăng 11,5% so với cùng kỳ, với tôm và cá tra, basa tiếp tục là hai nhóm hàng chủ lực, chiếm tổng cộng 60% trị giá xuất khẩu thủy sản trong quý III.
Xuất khẩu thủy sản quý III thu về 3,34 tỷ USD
Theo VietnamBiz dẫn Bản tin Nông, lâm, thủy sản ngày 30/10 của Bộ Công Thương, Việt Nam xuất khẩu 722.800 tấn thủy sản trong quý III/2026, thu về 3,34 tỷ USD.
| Mốc so sánh | Tăng về lượng | Tăng về trị giá |
|---|---|---|
| Quý III/2026 so với quý II/2026 | 9,3% | 7,4% |
| Quý III/2026 so với quý III/2025 | 7,7% | 9,4% |
| 9 tháng năm 2026 so với cùng kỳ | 7,9% | 11,5% |
Trong quý III, nhiều mặt hàng tăng cả lượng lẫn trị giá, gồm tôm, cá tra, basa, cá đông lạnh, cá ngừ, mực, cua, bạch tuộc, chả cá, cá khô và ghẹ. Tính chung 9 tháng, trị giá xuất khẩu tăng nhanh hơn khối lượng. Đây là chênh lệch ở cấp toàn ngành; diễn biến giữa các nhóm hàng không hoàn toàn giống nhau.
Tôm và cá tra, basa chiếm 60% kim ngạch quý III
Theo thống kê sơ bộ của Bộ Công Thương từ số liệu Cục Hải quan, tôm các loại chiếm 41,5% trị giá xuất khẩu thủy sản quý III. Cá tra và basa chiếm thêm 18,5%. Tỷ trọng này cho thấy kết quả của hai nhóm hàng có ảnh hưởng lớn đến kim ngạch toàn ngành trong quý.
Tính lũy kế 9 tháng, lượng tôm xuất khẩu tăng 8,6% và trị giá tăng 11% so với cùng kỳ. Cá tra, basa tăng 9,9% về lượng và 10,4% về trị giá. Cá đông lạnh tăng nhanh hơn về lượng, ở mức 13,8%, trong khi trị giá tăng 12,9%.
Ở các nhóm hàng khác, xuất khẩu cá ngừ tăng 4,1% cả về lượng lẫn trị giá. Lượng mực xuất khẩu tăng 5,1%, còn trị giá tăng 12,4%. Các số liệu này phản ánh kết quả xuất khẩu theo từng nhóm sản phẩm; để xác định nguyên nhân chênh lệch giữa tăng trưởng lượng và trị giá cần xem thêm giá bán và cơ cấu mặt hàng.
Quý IV là thời điểm chuẩn bị nguồn nguyên liệu cho năm 2027
Quý IV thường là giai đoạn nhu cầu tiêu thụ thủy sản tăng tại Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản khi các thị trường chuẩn bị cho dịp Giáng sinh, năm mới và Tết Nguyên đán. Yếu tố mùa vụ có thể hỗ trợ đơn hàng cuối năm, nhưng kết quả còn phụ thuộc vào nhu cầu thực tế và khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu của doanh nghiệp.
Bên cạnh việc hoàn thành mục tiêu xuất khẩu, ba tháng cuối năm là thời điểm người nuôi và doanh nghiệp chuẩn bị nguyên liệu, lên kế hoạch diện tích nuôi cho năm 2027. Kết quả xuất khẩu tích cực được kỳ vọng tạo thêm điều kiện để người nuôi tái đầu tư và doanh nghiệp tiếp tục ứng dụng công nghệ xanh, giảm phát thải nhằm duy trì thị phần tại các thị trường quốc tế.