
Giá cà phê trong nước tiếp tục ổn định trong khoảng 93.000–93.800 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, Robusta và Arabica đều giảm trong tuần trước và có thể tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh khi nguồn cung mới từ Brazil được đưa ra thị trường.
Giá cà phê trong nước ổn định
Theo VietnamBiz, giá cà phê ngày 21/9 tại các tỉnh Tây Nguyên không thay đổi so với ngày trước, duy trì trong khoảng 93.000–93.800 đồng/kg.
Đắk Nông tiếp tục ghi nhận mức thu mua cao nhất là 93.800 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 93.600 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng có giá thấp nhất là 93.000 đồng/kg.
| Khu vực | Giá thu mua | Thay đổi |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 93.600 đồng/kg | Không đổi |
| Lâm Đồng | 93.000 đồng/kg | Không đổi |
| Gia Lai | 93.600 đồng/kg | Không đổi |
| Đắk Nông | 93.800 đồng/kg | Không đổi |
Tỷ giá USD/VND được Vietcombank công bố ở mức 25.790 đồng và không thay đổi so với ngày trước.
Giá Robusta giảm gần 4% trong tuần qua
Trên Sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 11/2026 giảm tổng cộng 129 USD/tấn trong tuần trước, tương đương 3,7%, xuống còn 3.396 USD/tấn.
Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 135 USD/tấn, tương đương 3,8%, xuống mức 3.373 USD/tấn.
| Kỳ hạn Robusta | Giá cuối tuần | Mức giảm |
|---|---|---|
| Tháng 11/2026 | 3.396 USD/tấn | 129 USD/tấn, tương đương 3,7% |
| Tháng 1/2027 | 3.373 USD/tấn | 135 USD/tấn, tương đương 3,8% |
Giá Arabica giảm gần 2%
Trên Sàn New York, giá cà phê Arabica kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 5,2 US cent/pound, tương đương 1,8%, xuống còn 280,5 US cent/pound.
Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 5,3 US cent/pound, tương đương 1,9%, đạt 271,95 US cent/pound.
| Kỳ hạn Arabica | Giá cuối tuần | Mức giảm |
|---|---|---|
| Tháng 12/2026 | 280,5 US cent/pound | 5,2 US cent/pound, tương đương 1,8% |
| Tháng 3/2027 | 271,95 US cent/pound | 5,3 US cent/pound, tương đương 1,9% |
Sản lượng cà phê Việt Nam có thể giảm trong niên vụ mới
Theo Công ty I & M Smith, niên vụ cà phê 2025–2026 kéo dài từ tháng 10/2025 đến tháng 9/2026 đang bước vào giai đoạn cuối. Thị trường hiện tập trung vào số liệu xuất khẩu cuối niên vụ và triển vọng của niên vụ mới 2026–2027.
Tại Việt Nam, phần lớn sản lượng của niên vụ 2025–2026 đã được đưa ra thị trường. Sản lượng đã phục hồi sau khi giảm trong hai niên vụ 2023–2024 và 2024–2025.
Tổng sản lượng cà phê Việt Nam trong niên vụ 2025–2026 được ước tính đạt 32,5 triệu bao, gồm 31 triệu bao Robusta.
Sang niên vụ 2026–2027, sản lượng được dự báo giảm nhẹ xuống 31 triệu bao, trong đó:
- Robusta đạt khoảng 29,8 triệu bao.
- Arabica đạt khoảng 1,2 triệu bao.
Mưa cuối mùa hè vẫn xuất hiện theo quy luật tại các vùng trồng cà phê chính ở Tây Nguyên. Cây cà phê đang phát triển hướng tới vụ thu hoạch mới, dự kiến bắt đầu trong tháng 10.
Tồn kho Arabica được chứng nhận tăng 13,9%
Lượng cà phê Arabica chế biến ướt được chứng nhận để giao dịch trên Sàn New York bắt đầu tăng trong những ngày gần đây.
Tính đến ngày 17/9, lượng cà phê được chứng nhận đạt 247.887 bao, tăng 30.241 bao, tương đương 13,9%, so với mức thấp ghi nhận ngày 15/9.
Mức tăng chủ yếu đến từ cà phê Brazil đăng ký mới khi sản lượng niên vụ 2026–2027 bắt đầu được đưa ra thị trường.
Dù phục hồi, lượng cà phê được chứng nhận vẫn thấp hơn 412.062 bao, tương đương 62,44%, so với mức 659.949 bao cùng thời điểm năm trước.
Brazil, Honduras và Peru chiếm phần lớn tồn kho
Trong tổng lượng Arabica được chứng nhận trên sàn:
- Honduras chiếm 22,40%.
- Peru chiếm 19,64%.
- Brazil chiếm 15,51%.
Riêng trong ngày 17/9, lượng cà phê được chứng nhận tăng thêm 14.408 bao, lên 247.887 bao.
Trong số này, 189.691 bao, tương đương 76,52%, được lưu giữ tại châu Âu. Khối lượng lưu kho tại Mỹ đạt 58.196 bao, chiếm 23,48%.
Arabica chế biến ướt của Brazil đạt 38.452 bao. Cà phê Honduras đạt 55.534 bao, trong khi Peru đóng góp 48.696 bao.
Lượng cà phê đang chờ phân loại giảm 17.577 bao trong ngày, xuống còn 31.168 bao.
Nguồn cung Brazil tạo thêm áp lực lên giá

Số liệu tồn kho được giới đầu cơ theo dõi như một chỉ báo về nguồn cung Arabica tại các thị trường tiêu dùng.
Lượng cà phê đăng ký tiếp tục tăng có thể trở thành yếu tố gây áp lực lên giá, dù tổng tồn kho được chứng nhận vẫn ở mức thấp so với cùng kỳ năm trước.
Cà phê Arabica chế biến ướt từ Brazil, Burundi, Colombia, Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras, Kenya, Mexico, Nicaragua, Papua New Guinea, Panama, Peru, Rwanda, Tanzania và Uganda đều đủ điều kiện đưa vào kho được chứng nhận của sàn. Mức chênh lệch giá áp dụng tùy thuộc vào từng xuất xứ và cấu trúc giá tại New York.
Brazil hạ lãi suất Selic xuống 13,75%
Ủy ban Chính sách tiền tệ thuộc Ngân hàng Trung ương Brazil thông báo giảm lãi suất Selic từ 14% xuống 13,75%, tương đương mức giảm 25 điểm cơ bản.
Quyết định được đưa ra trong bối cảnh lạm phát tại Brazil bắt đầu hạ nhiệt. Đồng real đã tăng 8,33% so với USD kể từ đầu năm 2026.
Nhìn chung, giá cà phê trong nước vẫn ổn định nhưng Robusta và Arabica đều giảm trong tuần qua. Nguồn cung mới từ Brazil cùng lượng cà phê đăng ký trên sàn gia tăng có thể tiếp tục tạo áp lực điều chỉnh, dù tồn kho Arabica được chứng nhận vẫn thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ.