
Giá vàng trong nước sáng 2/10 giảm ở cả vàng miếng SJC, vàng nhẫn và vàng nữ trang. Trên thị trường thế giới, vàng tăng nhẹ trong phiên 1/10 sau khi dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự kiến, rồi điều chỉnh trong sáng 2/10. Các mức giá trong nước dưới đây được bài gốc khảo sát lúc 9h00 ngày 2/10/2026.
Giá vàng trong nước ngày 2/10
Mức giảm tại các nhóm sản phẩm được khảo sát dao động từ 175.000 đến 300.000 đồng/lượng. Diễn biến cụ thể của vàng miếng, vàng nữ trang và vàng nhẫn như sau.
Vàng miếng SJC và vàng nữ trang đồng loạt giảm
Vàng miếng SJC tại SJC chi nhánh TP HCM, DOJI và PNJ chi nhánh Hà Nội cùng giảm 300.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua và bán. Phú Quý giảm 200.000 đồng/lượng chiều mua và 300.000 đồng/lượng chiều bán.

| Sản phẩm, đơn vị | Mua vào (triệu đồng/lượng) | Bán ra (triệu đồng/lượng) | Thay đổi mua vào (nghìn đồng/lượng) | Thay đổi bán ra (nghìn đồng/lượng) |
|---|---|---|---|---|
| SJC chi nhánh TP HCM | 140,50 | 143,50 | -300 | -300 |
| DOJI | 140,50 | 143,50 | -300 | -300 |
| Phú Quý | 140,30 | 143,50 | -200 | -300 |
| PNJ chi nhánh Hà Nội | 140,50 | 143,50 | -300 | -300 |
| Vàng nữ trang 99,99% (24K) | 137,50 | 142,00 | -300 | -300 |
| Vàng nữ trang 75% (18K) | 96,86 | 106,66 | -225 | -225 |
| Vàng nữ trang 58,3% (14K) | 73,14 | 82,94 | -175 | -175 |
Vàng nhẫn giảm tại bốn đơn vị được khảo sát
SJC và PNJ cùng hạ 300.000 đồng/lượng ở mỗi chiều giao dịch. DOJI và Phú Quý giảm 200.000 đồng/lượng ở cả chiều mua lẫn chiều bán.
| Đơn vị | Mua vào (triệu đồng/lượng) | Bán ra (triệu đồng/lượng) | Thay đổi mua vào (nghìn đồng/lượng) | Thay đổi bán ra (nghìn đồng/lượng) |
|---|---|---|---|---|
| SJC | 140,00 | 143,00 | -300 | -300 |
| DOJI | 139,80 | 143,80 | -200 | -200 |
| Phú Quý | 140,30 | 143,30 | -200 | -200 |
| PNJ | 140,50 | 143,50 | -300 | -300 |
Giá vàng thế giới tăng trong phiên 1/10, điều chỉnh sáng 2/10
Diễn biến thế giới trong bài gốc gồm giá chốt phiên ngày 1/10 và giá cập nhật lúc 7h15 sáng 2/10 theo giờ Việt Nam. Hai mốc thời gian này cho thấy vàng tăng trong phiên trước, sau đó giảm nhẹ vào sáng hôm sau.
Giá giao ngay, giá kỳ hạn và các kim loại quý
Kết thúc phiên 1/10, vàng giao ngay tăng 0,2%, lên 4.165,29 USD/ounce; vàng giao tháng 12 tăng 0,4%, lên 4.202,30 USD/ounce. Tính chung tháng 9, giá vàng giảm hơn 6%.
Đến 7h15 ngày 2/10 theo giờ Việt Nam, vàng giao ngay giảm 0,21% xuống 4.168 USD/ounce, theo Kitco. Vàng giao sau gần như đi ngang ở 4.204,7 USD/ounce.
Ở các kim loại quý khác, bạc giao ngay tăng 0,2% lên 60,51 USD/ounce, bạch kim tăng 0,1% lên 1.707,56 USD/ounce, còn palladium giảm 2,2% xuống 1.178,57 USD/ounce.
Dữ liệu lạm phát Mỹ tác động đến kỳ vọng lãi suất
Số liệu công bố hôm thứ Tư cho thấy lạm phát Mỹ tháng 8 tăng thấp hơn dự kiến; áp lực giá của tháng trước đó cũng được điều chỉnh giảm. Theo các công cụ theo dõi thị trường được bài gốc dẫn lại, xác suất Fed nâng lãi suất tại cuộc họp tháng 10 giảm còn 31%, từ 45% trước khi công bố số liệu và 69% một tuần trước. Ông David Meger, Giám đốc giao dịch kim loại tại High Ridge Futures, nhận định kỳ vọng tăng lãi suất giảm đã hỗ trợ giá kim loại quý.
Tuy vậy, lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng lên mức cao nhất trong hơn hai thập kỷ, còn đồng USD mạnh lên. Bài gốc cũng cho biết giá dầu tăng sau khi Trung Quốc đình chỉ xuất khẩu một số sản phẩm dầu, làm gia tăng lo ngại về lạm phát và nguồn cung nhiên liệu. Theo ông Meger, giá năng lượng tăng mạnh hoặc tình hình Trung Đông leo thang có thể gây bất lợi cho tâm lý thị trường vàng nếu làm tăng khả năng Fed nâng lãi suất.
Nhà đầu tư chờ báo cáo việc làm phi nông nghiệp tháng 9 của Mỹ, dự kiến công bố vào thứ Sáu. Ông Achilleas Georgolopoulos, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại XM Trading, nhận định kỳ vọng Fed tăng lãi suất thấp hơn đang hỗ trợ vàng, nhưng xu hướng ngắn hạn vẫn nghiêng về giảm. Theo ông, giá có thể kiểm tra lại mốc 4.000 USD/ounce, đặc biệt nếu báo cáo việc làm mạnh hơn dự kiến.
HSBC hạ dự báo giá vàng bình quân năm 2026 xuống 4.490 USD/ounce và năm 2027 xuống 4.825 USD/ounce. Ngân hàng này cho rằng giá có thể tiếp tục chịu áp lực ngắn hạn nhưng có khả năng đang đến gần vùng đáy; các ngân hàng trung ương có thể mua trở lại khi giá giảm, nhất là khi tiến gần hoặc xuống dưới 4.000 USD/ounce.