
Giá tiêu sáng 28/9 tại các vùng sản xuất trọng điểm trong nước giữ nguyên, dao động từ 136.000 đến 140.000 đồng/kg. Giá tiêu xuất khẩu được bài gốc cập nhật cũng không thay đổi. Tại Ấn Độ, giá nội địa giảm nhẹ khi hoạt động mua hàng ngắn hạn chững lại.
Giá tiêu trong nước ngày 28/9
Các địa phương được khảo sát đều duy trì mức thu mua của ngày trước đó. Chi tiết giá theo từng khu vực như sau:
Đắk Nông giữ mức 140.000 đồng/kg
Đắk Nông, khu vực thuộc tỉnh Lâm Đồng, ghi nhận giá 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk ở mức 138.000 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu, khu vực thuộc TP Hồ Chí Minh, đạt 136.500 đồng/kg. Gia Lai, Bình Phước và Đồng Nai cùng ở mức 136.000 đồng/kg.
| Khu vực khảo sát | Giá thu mua ngày 28/9 | So với ngày trước |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 138.000 đồng/kg | Không đổi |
| Gia Lai | 136.000 đồng/kg | Không đổi |
| Đắk Nông | 140.000 đồng/kg | Không đổi |
| Bà Rịa – Vũng Tàu | 136.500 đồng/kg | Không đổi |
| Bình Phước | 136.000 đồng/kg | Không đổi |
| Đồng Nai | 136.000 đồng/kg | Không đổi |
Giá tiêu xuất khẩu trên thị trường thế giới
Theo dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) được bài gốc dẫn lại, giá các loại tiêu đen và tiêu trắng dưới đây giữ nguyên so với ngày trước đó. Các mức chào bán được ghi nhận như sau.

Giá tiêu đen
| Loại tiêu | Giá ngày 28/9 |
|---|---|
| Lampung, Indonesia | 6.828 USD/tấn |
| Brazil ASTA 570 | 5.850 USD/tấn |
| Kuching ASTA, Malaysia | 9.250 USD/tấn |
| Việt Nam, loại 500 g/l | 5.970 USD/tấn |
| Việt Nam, loại 550 g/l | 6.075 USD/tấn |
Giá tiêu trắng
| Loại tiêu | Giá ngày 28/9 |
|---|---|
| Muntok, Indonesia | 9.348 USD/tấn |
| Malaysia ASTA | 12.150 USD/tấn |
| Việt Nam | 8.450 USD/tấn |
Thị trường hồ tiêu Ấn Độ giao dịch trầm lắng
Bên cạnh bảng giá trong nước và xuất khẩu, bài gốc cập nhật diễn biến tại Ấn Độ theo Commodity Board Europe. Giá tại Kochi giảm trong những ngày cuối tháng 9, dù thị trường vẫn lo ngại nguồn cung thời gian tới.

Giá tại Kochi giảm sau đợt tăng trước đó
Giá tiêu đen tại Kochi giảm khoảng 0,05 USD/kg, xuống 7,51–7,62 USD/kg, sau khi đã tăng 0,16–0,21 USD/kg trước đó. Theo bài gốc, mức giá nội địa vẫn cao so với lịch sử, phản ánh nguồn cung hàng thực đang dần thu hẹp.
Áp lực giảm giá ngắn hạn chủ yếu đến từ sức mua yếu: người mua hạn chế giao dịch sau đợt tăng giá gần đây. Tại Kerala, vùng sản xuất hồ tiêu chủ lực của Ấn Độ, nông dân có xu hướng giữ hàng tồn kho để chờ giá, còn người mua cuối cùng chưa tăng mạnh lượng đặt mua.
Lo ngại sản lượng niên vụ 2026–2027 giảm khoảng 25%
Các nhà giao dịch đang đánh giá khả năng sản lượng hồ tiêu Ấn Độ niên vụ 2026–2027 giảm khoảng 25% do thời tiết bất lợi tại một số vùng trồng chính. Trước mắt, lượng hàng đã nhập khẩu vẫn giúp duy trì nguồn cung, nên thị trường chưa ghi nhận tình trạng thiếu hụt rõ rệt.
Nguồn tiêu từ Sri Lanka xuất sang Ấn Độ cũng có xu hướng giảm. Giá nội địa Sri Lanka tăng khiến biên lợi nhuận xuất khẩu thu hẹp; đồng thời, chi phí nhập khẩu tăng và nguồn nguyên liệu hạn chế hơn làm chậm dòng hàng. Trước đó, nguồn cung dồi dào cùng chênh lệch giá thuận lợi từng hỗ trợ Sri Lanka xuất khẩu tiêu sang Ấn Độ.
Xuất khẩu hai tháng đầu năm tài chính giảm
Trong hai tháng đầu năm tài chính 2026–2027, Ấn Độ xuất khẩu 3.237 tấn hồ tiêu, thấp hơn mức 3.662 tấn cùng kỳ năm trước. Bài gốc cho biết nhu cầu quốc tế vẫn hiện diện, nhưng giá cao khiến người mua thận trọng và có xu hướng tìm nguồn cung cạnh tranh hơn từ Việt Nam, Brazil.
Trong ngắn hạn, thị trường được dự báo dao động trong biên độ hẹp do nhu cầu chưa đủ mạnh để đẩy giá tăng. Về trung hạn, nguồn cung có thể thắt chặt hơn khi sản lượng vụ mới của Ấn Độ được xác định rõ và lượng hàng tồn kho nhập từ Sri Lanka giảm dần; khi đó, giá các loại tiêu chất lượng cao có thể được hỗ trợ.